A.
MỞ ĐẦU
Trung gian thương mại là phương thức giao dịch trong đó mọi việc thiết lập
quan hệ giữa người mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ và người bán hàng hóa, sử dụng
dịch vụ và việc xác định các điều kiện giao dịch phải thông qua trung gian
thương mại. Ở Việt Nam, theo quy định trong Luật Thương mại 2005, hoạt động
trung gian thương mại được xác định là hoạt động của thương nhân để thực hiện
các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định. Một
trong số các hình thức trung gian thương mại khá phổ biến hiện nay là hình thức
đại lý thương mại. Với hình thức này, thương nhân có thể mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm của mình một cách nhanh chóng và tiết kiệm chi phí đáng kể
trong quá trình phân phối sản phẩm. Trong những nội dung liên quan đến quá
trình thực hiện hợp đồng đại lý thương mại như quyền, nghĩa vụ của bên giao đại
lý, bên đại lý; quyền sở hữu trong đại lý thương mại; thanh toán trong đại lý
hay thù lao đại lý... thì việc khi nào hợp đồng đại lý chấm dứt và hệ quả pháp
lý của việc chấm dứt như thế nào cũng cần được quan tâm. Vì vây, em xin chon đề
bài “Phân tích và bình luận quy định tại
Điều 177 Luật Thương mại năm 2005 về thời hạn đại lý” để tìm hiểu chi tiết
hơn về vấn đề này.
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I.KHÁI NIỆM ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI.
1. Định nghĩa đại lý thương mại.
Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và
bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh
chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ cho bên
giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.
2. Đặc điểm của đại lý thương mại.
Về loại hình đại lý gồm 2 loại:
+ Đại lý mua bán hàng hóa
+ Đại lý cung ứng dịch vụ
Về chủ thể bên giao đại
lý cũng như bên đại lý phải là thương nhân và có đăng ký kinh doanh phù hợp với
hàng hóa đại lý.
Về nội dung:
Giao kết thực hiện hợp đồng đại lý giữa
bên giao đại lý và bên đại lý.
Hình thức hợp đồng đại
lý:hợp đồng đại lý phải được lập thành
văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý thương đương.
Chủ thể tham gia bao gồm có bên giao
đại lý và bên đại lý
Đối tượng: hoạt động đại lý mua bán
hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ.
Nội dung: pháp luật
Thương mại cho phép các bên tự thỏa thuận. Theo quy định cũ tại Điều 199 Luật
Thương mại 1997 thì hợp đồng đại lý có các điều khoản sau: Tên, địa chỉ của các
bên; Hàng hoá đại lý; Hình thức đại lý; Thù lao đại lý; Thời hạn hiệu lực của hợp
đồng đại lý. Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận và ghi vào văn bản hợp đồng những
nội dung khác như biện pháp đảm bảo hợp đồng, chế độ bảo hành đối với hàng hóa đại
lý nghĩa vụ thanh toán các chi phí liên quan đến hoạt động đại lý, hỗ trợ kỹ
thuật, cơ sở vật chất cho đại lý tổ chức quảng cáo, tiếp thị, chế độ thưởng phạt
vật chất, bồi thường thiệt hại....
Giao kết thực hiện mua
bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ giữa bên đại lý và khách hàng.
Bên đại lý nhân danh
chính mình để giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ với
khách hàng.
Quyền và nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở
hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ mang lại quyền và nghĩa vụ cho bên
đại lý.
3. Các hình thức đại lý.
Hình thức đại lý là cách thức mà các bên tham gia quan hệ đại lý lựa chọn
để thực hiện hợp đồng đại lý. Hình thức đại lý ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
kinh doanh của các chủ thể. Từ hình thức đại lý có thể xác định được quyền và
nghĩa vụ của các bên. Theo Điều 169 Luật Thương mại 2005, đại lý bao gồm các
hình thức sau:
Đại lý bao tiêu: là hình
thức đại lý mà bên đâị lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng
hóa hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý. Trong hình thức đại
lý này, bên giao đại lý ấn định giá giao đại lý, bên đại lý quyết định giá bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng, do đó, thù lao mà bên đại lý được hưởng
là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán thực tế so với giá mua, giá bán do bên
giao đại lý quyết định.
Đại lý độc quyền: là hình thức đại lý mà tại
một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua bán hoặc
một số mặt hàng hoặc cung ứng một số loại dịch vụ nhất định
Tổng đại lý mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ: là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ chức một hệ thống đại
lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên giao
đại lý. Tổng đại lý là đối tác trực tiếp của bên giao đại lý. Tổng đại lý đại
diện cho hệ thống trực thuộc. Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của
tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý.
Các hình thức đại lý khác mà các bên
thỏa thuận.
II. PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 177
LUẬT THƯƠNG MẠI 2005 VỀ THỜI HẠN ĐẠI LÝ.
1.Quy định tại Điều 177 Luật thương mại
2005.
“Điều 177. Thời hạn đại lý
1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn đại lý chỉ chấm dứt sau một
thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn sáu mươi ngày, kể từ ngày một trong hai
bên thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý.
2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu bên giao đại lý thông báo chấm
dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý có quyền yêu cầu
bên giao đại lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý
cho bên giao đại lý đó.
Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong
thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý.
Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính
là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý.
3. Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại
lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời
gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý.”
2.Phân tích quy định tại Điều 177 về
thời hạn đại lý.
2.1. Phân tích điều luật.
Pháp luật thương mại tôn trọng quyền
tự do thỏa thuận của các bên về thời hạn đại lý. Trường hợp các bên không thỏa
thuận thì pháp luật có quy định như sau:
Về chủ thể có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng đại lý: cả 2 bên là bên giao đại lý và bên đại lý đều
có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng đại lý.
Về mặt điều kiện phải đáp
ứng được 2 điều kiện:
Thời hạn đại lý chỉ chấm
dứt sau một thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn 60 ngày, kể từ ngày bên yêu cầu
chấm dứt thông báo cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý.
Việc thông báo chấm dứt
thì phải được lập thành văn bản.
Về hậu quả pháp lý khi
bên giao đại lý hoặc bên đại lý là bên đưa ra yêu cầu chấm dứt hợp đồng đại lý
lại có sự khác biệt cụ thể là:
Thứ nhất, nếu bên giao đại lý thông báo chấm
dứt hợp đồng thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một khoản
tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý.
Giá trị của khoản bồi thường này
sẽ được xác định dựa trên các thiệt hại mà việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn
gây ra Tuy nhiên nếu, các bên không thỏa thuận thì hợp đồng đại lý sẽ chỉ chấm
dứt sau một thời hạn không sớm hơn 60 ngày kể từ ngày 1 trong 2 bên thông báo
cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng. Cần lưu ý là thông báo này cũng phải được
thực hiện bằng văn bản. Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt theo yêu cầu của
bên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho
thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý. Còn nếu hợp đồng đại lý được
chấm dứt theo yêu cầu của bên giao đại lý thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên
giao đại lý bồi thường cho mình một khoản tiền. Giá trị của khoản bồi thường là
1 tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà
bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý. Trong trường hợp thời gian đại lý dưới
một năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình
trong thời gian nhận đại lý. Ví dụ: Đại lý B đã làm đại lý cho công ty A trong
thời hạn 3 năm với mức thù lao như sau: năm 2010: 20 triệu/tháng; năm 2011: 35
triệu/tháng; năm 2012: 15 triệu/tháng. Trong hợp đồng đại lý giữa công ty A và
doanh nghiệp B không nêu rõ về thời hạn chấm dứt công việc đại lý của đại lý B.
Nay công ty A đưa ra yêu cầu chấm dứt hợp đồng với đại lý B. Thì công ty A phải
bồi thường cho đại lý B một khoản bằng:
01 tháng thù lao trung bình =
(20+35+15)/3 = 23,3 triệu đồng.
Rõ ràng thù lao trong hoạt động đại lý là một mấu chốt rất quan trọng
trong hợp đồng đại lý bởi nó không chỉ là điều kiện giúp bên đại lý thực hiện tốt
các nghĩa vụ của mình mà còn là căn cứ để các bên xác định mức bồi thường khi hợp
đồng chấm dứt. Luật thương mại 2005 cũng đã nêu rõ: nếu 2 bên không có thỏa thuận
khác, thù thao đại lý được trả cho bên đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc
chênh lệch giá. Như vậy, tùy thuộc vào từng phương thức giao, nhận nghĩa vụ
mua, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ mà bên đại lý sẽ được hưởng thù lao dưới
hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá. Trường hợp bên giao đại lý ấn định giá
mua, giá bán hàng hóa hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì bên đại lý
được hưởng hoa hồng tính theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu mà đại lý mang về
cho doanh nghiệp. Còn nếu bên giao đại lý không ấn định giá mua, giá bán hàng
hoá hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng mà chỉ ấn định giá giao đại lý cho
bên đại lý thì bên đại lý được hưởng chênh lệch giá. Mức chênh lệch giá được
xác định là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho
khách hàng so với giá do bên giao đại lý ấn định cho bên đại lý. Thông thường
việc thanh toán tiền hàng, tiền cung ứng dịch vụ và thù lao đại lý được thực hiện
theo từng đợt sau khi bên đại lý hoàn thành việc mua, bán một khối lượng hàng
hoá hoặc cung ứng một khối lượng dịch vụ nhất định. Lấy một ví dụ để làm rõ quy
định này của luật thương mại 2005: Công ty A chuyên sản xuất sữa bột. Công ty A
và ông B có ký với nhau một hợp đồng đại lý theo đó ông B sẽ trở thành đại lý
phân phối, bán hàng cho công ty A. Trong quý I năm 2012, công ty A giao cho đại
lý của ông B lô hàng 800 hộp sữa. Có 2 trường hợp xảy ra:
Công ty A định giá sẵn cho đại lý B là đại lý
phải bán ra thị trường với mức giá 200.000đ/hộp và mức hoa hồng là 5% trên tổng
doanh thu là Thù lao đại lý B được hưởng: 200.000 x 800 x 5% = 8.000.000đ.
Công ty A chỉ định giá
bán cho đại lý B là 200.000đ/hộp mà không quy định giá bán ra thị trường. Đại
lý bán ra với mức giá 205.000đ/hộp à Thù lao đại lý B được hưởng là: (205.000 –
200.000) x 800.000 = 4.000.000đ.
Như đã nói ở trên, bên đại lý chỉ thay mặt bên giao đại lý thực hiện hoạt
động mua, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ và nhận thù lao. Tuy nhiên trong
quá trình hoạt động, nếu bên đại lý thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật
nào ví dụ như: thay hàng thật của công ty bằng hàng giả, háng nhái để kiếm lời,
thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh với các đại lý khác,… thì bên đại
lý sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi do mình gây
ra. Còn nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của
bên giao đại lý thì bên này sẽ liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm
pháp luật của bên đại lý ví dụ: bên giao đại lý cung cấp hàng kém chất lượng, hết
hạn sử dụng cho bên đại lý bán,…
Thứ hai, hợp đồng đại lý được chấm dứt trên
cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có quyền bên giao đại lý bồi
thường cho khoảng thời gian mình đã làm đại lý.
2.2. Phân tích ví dụ thực tế.
Trong tường hợp này, em phân tích
theo ví dụ thự tế đó là: Hợp đồng đại lý
dịch vụ internet công cộng (được trình bày tại phần phụ lục của bài viết).
Tại Khoản 1 Điều 7 của hợp đồng đại lý dịch vụ
internet công cộng hai bên có thỏa thuận về các trường hợp được chấm dứt hợp đồng
đại lý:
Thứ nhất, một trong hai bên gửi văn bản yêu cầu
chấm dứt Hợp đồng đại lý cho Bên kia trước tối thiểu 15 ngày làm việc so với
ngày dự định chấm dứt, và hai bên ký vào Biên bản thanh lý Hợp đồng đại lý. Theo
đó, bên gửi văn bản yêu cầu chấm dứt hợp đồng đại lý trong thời hạn 15 ngày làm
việc so với ngày dự định chấm dứt cho bên kia kèm theo điều kiện hai bên ký vào
Biên bản thanh lý Hợp đồng đại lý còn theo quy định của tại Khoản 1 Điều 177 Luật
thương mại thì thời hạn đại lý chỉ chấm
dứt sau khoảng thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn 60 ngày, kể từ ngày một
trong hai bên thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại
lý.
Thứ hai, hết thời hạn Hợp đồng đại lý theo
quy định tại điều 4.
Thứ ba, hết thời hạn
tạm ngưng tại điều 6, khoản 6.3, mà bên A không có yêu cầu tiếp tục Hợp đồng đại
lý.
Thứ tư, theo yêu cầu
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Khoản 2 Điều 7 trong hợp đồng đại lý
có quy định bên B (tức bên giao đại lý) sẽ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
đại lý khi:
Bên A (tức bên đại lý) ký
Hợp đồng đại lý internet với bên B nhưng sử dụng dịch vụ internet của doanh
nghiệp viễn thông khác để cung cấp dịch vụ truy cập internet công cộng.
Bên A có hành vi làm ảnh
hưởng đến an toàn mạng viễn thông và an ninh thông tin hoặc có hành vi vi phạm
khác trong việc cung cấp dịch vụ truy nhập internet công cộng mà hành vi đó được
quy định, mô tả trong văn bản pháp luật
Theo khoản 2 Điều 177 Luật Thương mại 2005 trong trường hợp hai bên không có thỏa thuận,
bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này
bất kể lý do gì thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một
khoản tiền trong thời gian làm đại lý cho bên giao đại lý đó. Và cũng theo quy
định tại Điều 8 của hợp đồng đại lý việc bổi thường thiệt hại được áp dụng theo
quy định của pháp luật tức là theo khoản 2 Điều 177 theo đó giá trị của khoản bồi
thường là một tháng thù lao trung bình trong thời hạn nhận đại lý cho mỗi năm
mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý; trường hợp thời gian đại lý dưới
1 năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình
trong thời gian nhận đại lý. Tại Điều 4 của hợp đồng thì thời hạn của hợp đồng
đại lý kể từ ngày ký cho đến hết thời hạn của hợp đồng dịch vụ
MegaVNN/FiberVNN, trừ trường hợp các bên có thỏa thuân khác. Về thù lao đại lý,
hợp đồng này bên B không ấn định giá thu của người sử dụng dịch vụ truy nhập
internet công cộng mà chỉ ấn định giá giao đại lý cho bên A thông qua hợp đồng
dịch vụ MegaVNN/FiberVNN.
3. ƯU ĐIỂM CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỜI HẠN ĐẠI
LÝ TẠI ĐIỀU 177 LUẬT THƯƠNG MẠI 2005.
Quy định về chấm dứt thời
hạn đại lý trong quan hệ đại lí thương mại trong Luật thương mại 2005 có nhiều
điểm tiến bộ so với quy định trong Luật thương mại 1997. Điều 126 Luật thương mại
1997 quy định về các trường hợp được chấm dứt hợp đồng đại lý, trong đó : “một
bên có quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng khi việc vi phạm hợp đồng của bên kia
là điều kiện để đình chỉ hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận” . Nói cách khác,
theo quy định của Luật thương mại 1997, các bên chỉ có quyền chấm dứt thời hạn
đại lý khi bên kia không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Trong khi đó, Luật thương mại 2005 quy định rộng hơn các trường hợp chấm dứt thời
hạn đại lý của các bên, nếu không có thỏa thuận gì khác thì các bên có quyền chấm
dứt thời hạn hợp đại lý bất cứ khi nào nhưng phải thông báo bằng văn bản trước
một khoảng thời gian ít nhất là sáu mươi ngày.
So với quy định của Bộ Luật
dân sự 2005 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ thì quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng đại lý được quy định tại Luật thương mại 2005 cũng có sự mở rộng
về các trường hợp đơn phuơng chấm dứt hợp đồng. Sự tự do chấm dứt hợp đồng đại
lý thương mại được quy định trong Luật thương mại 2005 sẽ làm ảnh hưởng đến quyền
lợi của bên kia bởi quan hệ đại lý thương mại có sự gắn kết, phụ thuộc cao.
4.HẠN CHẾ CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỜI HẠN ĐẠI
LÝ TẠI ĐIỀU 177 LUẬT THƯƠNG MẠI 2005.
Mặc dù có những điểm tiến bộ so với
Luật thương mại 1997, nhưng quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
trong quan hệ đại lí thương mại vẫn tồn tại những điểm bất cập. Cụ thể:
Thứ nhất, về các trường hợp chấm dứt thời hạn
đại lý thương mại. Luật thương mại 2005 quy định mở rộng các trường hợp đơn
phương chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại. Theo đó, nếu không có thỏa thuận
khác, các bên có quyền chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại mà chỉ cần thông báo
cho bên kia bằng văn bản trong thời hạn quy định. Cụ thể, pháp luật quy định thời
hạn báo trước việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý ít nhất sáu mươi ngày để
bên kia có thời gian chuẩn bị, điều chỉnh lại hoạt động đại lý của mình trước
khi chấm dứt hoàn toàn quan hệ đại lý. Quy định cụ thể thời hạn báo trước cũng
như hình thức thông báo nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm khi một
bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn đại lý. Có thể thấy, quy định về
việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý không cần lý do phù hợp với tinh thần
chung của Luật thương mại 2005, phù hợp điều kiện hội nhập của đất nước.
Tuy nhiên, quy định tự do
đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý của các bên trong nhiều trường hợp sẽ làm ảnh
hưởng lớn đến quyền lợi của bên kia, đồng thời quy định này cũng khiến cho quan
hệ đại lý không còn được vững chắc, gắn bó đúng như bản chất của nó, thương
nhân cũng thiếu sự tin tưởng khiến cho việc thúc đẩy hoạt động thương mại thông
qua đại lý thương mại cũng bị ảnh hưởng phần nào.
Thứ hai, “thời gian hợp
lý” được quy định tại Khoản 1 Điều 177 Luật thương mại 2005 được hiểu như thế
nào? Không có một văn bản dưới luật nào hướng dẫn cụ thể chỉ có điều kiện không
lớn hơn 60 ngày, kể từ ngày một trong hai bên thông báo băng văn bản cho bên
kia về chấm dứt hợp đông đại lý vậy thì hợp đồng đại lý có hiệu lực 1 ngày,
ngày thứ 2 bên đại lý gửi yêu cầu chấm dứt hợp đồng đại lý cho bên giao đại lý
vậy sau 61 ngày thì hợp đồng đại lý có hết hiệu lực không?
Thứ ba, Khoản 3 Điều
177 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt
trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên
giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại
lý”. Quy định như vậy chưa thực sự hợp lý, chưa bảo vệ được quyền lợi của bên đại
lý trong trường hợp bên giao đại lý không thực hiện, thực hiện không đủ, thực
hiện không đúng nghĩa vụ buộc bên đại lý phải chấm dứt hợp đồng.
Thứ tư, về hậu quả pháp lý của việc đơn phương
chấm dứt hợp đồng đại lý:
Về việc đòi bồi thường của bên đại lý
khi bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng quy định chưa hợp lý, chưa bao
quát được tất cả các trường hợp. Không phải trong bất cứ trường hợp nào bên
giao đại lý yêu cầu chấm dứt hợp đồng cũng là vi phạm hợp đồng đã kí. Ví dụ như
đối với hợp đồng đại lý không xác định thời hạn, trong trường hợp không có vi
phạm thì việc trả tiền bồi thường đối với việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại
lý của bên giao đại lý cần được xác định hợp lý hơn.
Về mức bồi thường khi bên
giao đại lý đơn phương chấm dứt hợp đồng: Điều 177 Luật thương mai 2005 quy định
“Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời
gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý.
Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính
là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý”. Cách quy định
giá trị khoản bồi thường như vậy mang tính chủ quan, không phù hợp với nguyên tắc
tính bồi thường thiệt hại. Hơn nữa, trên thực tế quan hệ đại lý thường được thực
hiện trong thời gian dài và để thực hiện dịch vụ đại lý cho bên giao đại lý,
bên đại lý có thể phải bỏ khá nhiều chi phí. Nếu bên giao đại lý đơn phương chấm
dứt hợp đồng đại lý sẽ gây thiệt hại cho bên đại lý.
5.GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẠN CHẾ QUY ĐỊNH
VỀ THỜI HẠN ĐẠI LÝ LUẬT THƯƠNG MẠI 2005.
Thứ nhất, hợp đồng đại lý thương mại là một
loại hợp đồng dịch vụ. Do đó, vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại khi một
bên đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý cần được quy định phù hợp với quy định
của Bộ luật dân sự năm 2005. Nói cách khác, vấn đề liến quan đến việc bồi thường
thiệt hại khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý đã được Bộ luật dân sự
2005 giải quyết khá thỏa đáng. Do đó, các quy định tại Luật Thương mại không cần
quy định về vấn đề này, nếu có quy định thì nên quy định cụ thể rõ ràng nhưng
phải phù hợp với luật dân sự, phù hợp với nguyên tắc bồi thường thiệt hại. Cụ
thể, nếu trong trường hợp việc tiếp tục thực hiện hợp đồng đại lý không có lợi
cho bên đại lý thì bên giao đại lý có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, phải
trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên đại lý đã thực hiện và bồi thường thiệt
hại bao gồm những thiệt hại thực tế có thể tính toán được.
Thứ hai, Luật Thương mại 2005 cần quy định về
việc chấm dứt hợp đồng đại lý trong trườn hợp hai bên không thỏa thuận về thời
gian làm đại lý. Trong trường hợp này, trách nhiệm bồi thường của bên giao đại
lý cần được xem xét hợp lý hơn bởi trong trường hợp này, đơn phương chấm dứt hợp
đồng đại lý thường không có sự vi phạm của các bên.
Thứ ba, Luật Thương mại 2005 chỉ quy điịnh
quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bên đại lý nhưng bên giao đại lý cũng cần
được sự bảo vệ của pháp luật khi bên đại lý đơn phương chấm dứt hợp đồng. Khi
bên đại lý đơn phương chấm dứt hợp đồng, bên giao đại lý cũng phải gánh chịu những
hậu quả như: hàng hóa giao cho bên đại lý không bảo đảm số lượng cũng như chất
lượng do quy trình bảo quản, bên đại lý tiết lộ bí mật kinh doanh cho bên đối thủ
hoặc bên đại lý bán hàng hóa dịch vụ giá cao hơn bên giao đại lý ấn định... Như
vậy, bên giao đại lý cũng là bên phải gánh chịu những thiệt hại nhất định của
việc chấm dứt thực hiện hợp đồng nên Luật Thương mại 2005 cũng cần bổ sung quy
định bảo vệ quyền lợi cho bên giao đại lý khi bên đại lý đơn phương chấm dứt hợp
đồng.
Thứ tư, theo quy định
tại Khoản 3 Điều 177 Luật Thương mại 2005, trong mọi trường hợp bên đại lý yêu
cầu chấm dứt hợp đồng thì đều không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường;
quy định này sẽ không bảo vệ quyền lợi của bên đại lý trong trường hợp bên giao
đại lý không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ buộc bên đại lý phải
chấm dứt hợp đồng. Việc bên đại lý đơn phương chấm dứt hợp đồng không phải do lỗi
của họ mà do bên giao đại lý vi hạm nghĩa vụ thì thiệt hại của bên đại lý ngày
càng nặng nề hơn. Như vậy, Khoản 3 Điều 177 Luật Thương mại 2005 cần được sửa đổi
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên đại lý theo hướng như sau: Trong
trường hợp bên giao đại lý không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện
không đúng theo thỏa thuận thì bên đại lý có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
và được yêu cầu bổi thường thiệt hại.
C.KẾT LUẬN.
Hiện nay, thương nhân sẽ kinh doanh
có hiệu quả hơn nếu biết cách sử dụng đại lý thương mại một cách hợp lý. Tuy
nhiên, để biết cách sử dụng hợp lý thì thương nhân cần phải có hiểu biết về quy
định của pháp luật đối với hoạt động đại lý thương mại. Khi các thương nhân đã
có hiểu biết cần thiết về nó và đem áp dụng trong thực tế kinh doanh gặp những
vấn đề vướng mắc trong quá trình áp dụng thì câu chuyện lại đẩy về phía nhà làm
luật. Đây chính là lúc các quy định của pháp luật phải ăn khớp với các vấn đề
đang nảy sinh trong thực tế. Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật liên
quan là rất cấn thiết nhằm tạo một hành lang pháp lý chặt chẽ, góp phần áp dụng
vào thực tiễn một cách hiệu quả.
DANH MỤC TÀI LIỆU
1. Bộ luật dân sự 2005
2. Luật thương mại 2005
3. Giáo trình luật thương mại tập II –
Trường Đại học Luật Hà Nội.

Luật Sư Phạm Công Tuấn Hạ từ Luật IURA Hồ Chí Minh giải quyết mọi vấn đề về luật thương mại
Trả lờiXóa